Phạm Văn Đồng (01-03-1906 – 29-04-2000), nhà hoạt động xuất sắc của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Quê: xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. 
Năm 1926, ông sang Trung Quốc dự lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu; gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Cuối 1927, ông về nước, tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn, được cử vào Kỳ bộ thanh niên Nam Kỳ; sau đó, vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (1929). Tháng 05-1929, ông đi Hương Cảng dự Đại hội của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội rồi về Sài Gòn hoạt động cách mạng. Tháng 07-1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù rồi đày ra Côn Đảo (07-1929). Tháng 07-1936, ông ra tù về Hà Nội tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 05-1940, ông sang Côn Minh, Trung Quốc gặp Nguyễn Ái Quốc. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (1940). Sau đó, ông cùng Nguyễn Ái Quốc về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn.
Tháng 08-1945, ông tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, được bầu làm Ủy viên Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 02-09-1945, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính Chính phủ Lâm thời. Sau đó, ông là Trưởng phái đoàn Chính phủ tại Hội nghị Fontainebleau (05-1946); Đại diện của Đảng và Chính phủ tại Miền Nam Trung Bộ; Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (08-1949), kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (05-1954); Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Genèvè về Đông Dương (từ 05-1954 đến 07-1954). Sau khi hòa bình lập lại, ông là Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1981); Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1987). Ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (1947), Ủy viên chính thức (1949), Ủy viên Bộ Chính trị các khoá II - V (02-1951 đến 1986), Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ 12-1986 đến 1997), Đại biểu Quốc hội các khoá I - VII (1946 - 1987).
Tác phẩm chính của ông gồm có: “Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam”, “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại”, “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”, “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Văn hoá và đổi mới”… Ông được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương cao quý khác. Phạm Văn Đồng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà ngoại giao nổi tiếng nửa cuối thế kỷ XX, là nhà chính trị xuất sắc, có tầm nhìn chiến lược, tư duy độc lập, sáng tạo, nhà văn hóa uyên bác. Ông có nhiều công lao trong xây dựng và quản lý nhà nước. Một phần cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của ông gắn bó rất mật thiết với những cột mốc lịch sử của Việt Nam.

Năm 1926, ông sang Trung Quốc dự lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu; gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Cuối 1927, ông về nước, tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn, được cử vào Kỳ bộ thanh niên Nam Kỳ; sau đó, vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (1929). Tháng 05-1929, ông đi Hương Cảng dự Đại hội của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội rồi về Sài Gòn hoạt động cách mạng. Tháng 07-1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù rồi đày ra Côn Đảo (07-1929). Tháng 07-1936, ông ra tù về Hà Nội tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 05-1940, ông sang Côn Minh, Trung Quốc gặp Nguyễn Ái Quốc. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (1940). Sau đó, ông cùng Nguyễn Ái Quốc về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn.

Phạm Văn Đồng (thứ 2 từ trái sang) trong Chiến dịch Điên Biên Phủ (1954).
Tháng 08-1945, ông tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, được bầu làm Ủy viên Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 02-09-1945, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính Chính phủ Lâm thời. Sau đó, ông là Trưởng phái đoàn Chính phủ tại Hội nghị Fontainebleau (05-1946); Đại diện của Đảng và Chính phủ tại Miền Nam Trung Bộ; Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (08-1949), kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (05-1954); Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Genèvè về Đông Dương (từ 05-1954 đến 07-1954). Sau khi hòa bình lập lại, ông là Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1981); Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1987). Ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (1947), Ủy viên chính thức (1949), Ủy viên Bộ Chính trị các khoá II - V (02-1951 đến 1986), Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ 12-1986 đến 1997), Đại biểu Quốc hội các khoá I - VII (1946 - 1987).

Phạm Văn Đồng (bìa trái) trên lễ đài trong Lễ mừng Chính phủ về Thủ đô (01-01-1955).
Tác phẩm chính của ông gồm có: “Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam”, “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại”, “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”, “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Văn hoá và đổi mới”… Ông được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương cao quý khác. Phạm Văn Đồng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà ngoại giao nổi tiếng nửa cuối thế kỷ XX, là nhà chính trị xuất sắc, có tầm nhìn chiến lược, tư duy độc lập, sáng tạo, nhà văn hóa uyên bác. Ông có nhiều công lao trong xây dựng và quản lý nhà nước. Một phần cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của ông gắn bó rất mật thiết với những cột mốc lịch sử của Việt Nam.
Ngày 01-03-2006, Bộ Bưu chính, Viễn thông phát hành bộ tem “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Văn Đồng (01-03-1906 – 29-04-2000)” gồm 1 mẫu.
































