PDA

View Full Version : Mẹ Teresa Calcutta_mẫu gương sáng ngời của lòng nhân ái!


trithuc_nguyen
01-08-2008, 11:51
Mẹ Teresa (Tiếng Albani: Agnes Gonxha Bojaxhiu; Tiếng Macedonian: Агнес Гонџа Бојаџиу, Tiếng Latin: Agnes Gondža Bojadžiu; IPA: ['agnɛs 'gɔndʒa bɔ'jadʒu])(27 tháng 8 năm 1910 – 5 tháng 9 năm 1997) là một nữ tu Thiên Chúa giáo La Mã người Albani, người sáng lập hội Thừa sai Bác ái (Missionaries of Charity), ở Calcutta, Ấn Độ vào năm 1950.
Bà đạt giải Nobel Hòa bình năm 1979 cho những nỗ lực không mệt mỏi của bà đề cứu giúp người nghèo, người ốm, trẻ mồ côi và người sắp chết. Mẹ Teresa được Tạp chí Time bình chọn là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất đến thế giới trong thế kỉ 20.

Sau khi chết, bà được Giáo Hoàng John Paul II phong cho danh hiệu Blessed Teresa of Calcutta.

Tiểu sử của mẹ Teresa Calcutta


Ngày 16.8.1910: Mẹ Teresa chào đời.

Mẹ là con gái của ông Nikolle Bojaxhiu và bà Ra-na Bernai gốc người Ý, chào đời tại Skopje, thủ phủ của cộng hòa Anbania thuộc Mãedonia. Mẹ Teresa là con thứ ba và là con út trong gia đình, có chị là A-ga (A-ga), chào đời năm 1905 và anh là La-gia (La-gia), chào đời năm 1907. Ông Nikolle và bà Ra-na thành hôn với nhau vào năm 1900.

Ngày 27.8.1910: Mẹ Teresa được chịu phép Thánh Tẩy.
Mẹ được chịu phép Thánh Tẩy tại nhà thờ giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giê-su và được nhận thánh hiệu A-nê (Gonxha - A-nê). Cha mẹ là những tín hữu Công Giáo nhiệt thành, nhất là người mẹ.



1919: Cha qua đời.

Ông Nicolle đã chết vì bị đầu độc sau khi tham dự một buổi hội họp chính trị. Ông là thành viên hội đồng thành phố có tư tưởng quốc gia mạnh mẽ.

1915-1924: Học hành và đời sống trong gia đình.

Cùng với anh và chị, A-nê được đến trường học tập. A-nê học giỏi mặc dù sức khỏe có phần hơi yếu, em cũng dự các lớp giáo lý trong xứ đạo, tham gia ca đoàn và một hội đoàn Công Giáo dành cho các bạn trẻ là hội “Con Đức Mẹ.” Cô đặc biệt yêu thích đọc các sách về những nhà truyền giáo và hạnh tích các thánh.

Mẹ Tê-rê-xa đúc kết cuộc sống thời thơ ấu và thiếu niên của mình với gia đình như sau: “Chúng tôi rất hợp nhất với nhau, nhất là sau cái chết của cha tôi. Chúng tôi sống cho nhau và ai cũng hết sức làm cho người khác được hạnh phúc. Chúng tôi là một gia đình rất gắn bó và rất hạnh phúc.”

9592


Đến năm 12 tuổi, lần đầu tiên A-nê nhận ra tiếng gọi nhẹ nhàng kêu mời em theo đuổi nếp sống tu trì và truyền giáo, tiếng gọi ấy vẫn tiềm sinh trong tâm hồn em suốt nhiều năm. Trong thời gian ấy, em tiếp tục sinh hoạt tích cực với hội “Con Đức Mẹ,” và ý chí hiến thân truyền giáo càng được hun đúc nhờ sự khuyến khích của các cha dòng Tên coi sóc giáo xứ. Người anh của A-nê là La-gia đến Áo để học tập và trở thành một sĩ quan kỵ binh trong học viện quân sự tại đó.

1928: Tiếng gọi gia nhập dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô

Sở nguyện truyền giáo của A-nê còn được xác định hơn nữa qua lời mời gọi rõ ràng theo đuổi đời sống tu trì khi A-nê cầu nguyện trước tòa Đức Mẹ, bổn mạng vùng Xơ-kốp-dê: “Xin Đức Mẹ cầu bầu và giúp con tìm ra ơn gọi của con.” Với sự hướng dẫn và trợ giúp của một linh mục dòng Tên người Nam Tư, A-nê xin gia nhập dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô (thường gọi là dòng Các Bà Ái Nhĩ Lan). A-nê bị hấp dẫn vì công việc truyền giáo của hội dòng này tại Ấn Độ.

9593


Ngày 26.9.1928: Cuộc hành trình đến Nhà Mẹ dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô tại Ái Nhĩ Lan.

Sau khi được chấp thuận, A-nê đến thủ đô Dublin của Ái Nhĩ Lan. Cô đáp tàu lửa đi qua các nước Nam Tư, Áo, Thụy Sĩ, Pháp, Anh, và sau cùng đã đến được Nhà Mẹ của dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô.

Ngày 1.12.1928: Hành trình đến Ấn Độ.

Sau hai tháng theo học khóa Anh văn cấp tốc, A-nê lên tàu thủy đi Ấn Độ và đến nơi vào ngày 6.1.1929 sau 37 ngày.
A-nê ở lại Calcuttta một tuần lễ và sau đó được sai đến miền Darjeeling nằm dưới chân núi Himalaya để bắt đầu năm tập.

Ngày 24.5.1931: Khấn Tạm.

Sau thời gian hai năm trong tập viện, A-nê tuyên lời khấn tạm trở thành một nữ tu của dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô, và đổi tên rửa tội để lấy tên Tê-rê-xa. “Tôi chọn tên Teresa khi khấn dòng. Nhưng đó không phải là tên của thánh Teresa Mẹ. Tôi đã chọn tên của thánh Teresa Bông Hoa Nhỏ, Teresa thành Li-di-ơ.”

1930-1937: Nữ tu Teresa tại Calcutta

Sau khi khấn tạm, nữ tu Teresa sống tại Calcutta và phục vụ trong công tác làm giáo viên dạy địa lý và lịch sử tại trường Thánh Mẫu Maria do dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô điều khiển.

Ngày 24.5.1937: Khấn trọn đời.

Sau nhiều năm khấn tạm, nữ tu teresa đã tuyên khấn trọn đời trong dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô, một dòng tu được thành lập tại Anh Quốc hồi thế kỷ XVI do Mẹ Mary Ward.

Mẹ Teresa đã tóm tắt về cuộc sống tu trì của mình trong dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô như sau: “Tôi là nữ tu hạnh phúc nhất trong dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô. Tôi chuyên việc dạy học. Công tác ấy được thực hiện vì lòng yêu mến Chúa thật là một việc tông đồ thực sự. Tôi rất thích công tác ấy.” Mẹ đã trở thành giám học của trường Thánh Mẫu Maria.

9594


Ngày 10.9.1946: Ngày được ơn soi sáng lập dòng.

Mẹ Teresa đã gọi ngày này bằng cái tên như vậy. Mẹ kể lại, “Trên chuyến xe lửa đi từ Calcutta đến Đa-di-ling để tham dự cuộc tĩnh tâm, tôi âm thầm cầu nguyện khi cảm nhận sâu sắc một tiếng gọi. Sứ điệp ấy rất rõ ràng. Tôi phải bỏ dòng để dấn thân giúp đỡ những người nghèo khó bằng cách sống giữa họ. Tiếng gọi đó là một lệnh truyền. Tôi đã biết nơi mình phải đến, nhưng không biết phải đi đến đó bằng cách nào.”

9595


Ngày 16.8.1948: Tòa Thánh ban phép cho Mẹ theo đuổi ơn gọi mới.

Rời bỏ dòng Đức Mẹ Lô-rét-tô là một việc khó khăn và đau đớn đối với nữ tu Teresa. Để thực hiện điều đó, nữ tu Teresa cần phải có phép đặc biệt của Tòa Thánh Roma sau khi nhận được sự đồng ý của nhà dòng. Sau cùng, Tòa Thánh cũng ban cho Mẹ phép chuẩn sống như một nữ tu ngoài tu viện. Mẹ rời bỏ nhà dòng ngày 16.8.1948, sau khi đã để lại tu phục của dòng cũ và mặc lấy bộ áo sa-ri trắng để nên giống những người phụ nữ nghèo khó nhất tại Ấn Độ. Bộ áo sa-ri với viền xanh biểu hiện khát vọng muốn noi gương Mẹ Maria Đồng Trinh.

Mẹ Teresa rời thành phố Calcutta để theo học khóa điều dưỡng cơ bản cấp tốc ba tháng, sau đó trở lại và thực hiện khát vọng hiến thân phục vụ những người nghèo khó khốn cùng nhất tại các khu ổ chuột ở thành phố Calcutta. Cũng trong năm đó, Mẹ Teresa nộp đơn xin làm công dân Ấn Độ và được chấp thuận, quyền công dân này Mẹ vẫn giữ suốt đời. Đến cuối thập niên 1970, Đức Phao-lô VI cũng ban cho Mẹ quyền công dân Vatican để tiện việc đi lại truyền giáo của Mẹ.

9596


Ngày 19.3.1949: Người môn đệ đầu tiên bước theo ơn gọi mới của Mẹ Teressa.

Cô Subashini Das, một học sinh cũ của Mẹ Teresa, bất ngờ đến thăm Mẹ và nói rằng rất muốn được bước theo lý tưởng của Mẹ. Cô là nữ tu đầu tiên của một dòng tu, tuy nhiên vào thời điểm ấy vẫn chưa thành hình.

Ngày 10.7.1950: Dòng Thừa Sai Bác Ái được Tòa Thánh Roma chuẩn nhận.

Con số đông đảo các thiếu nữ theo chân cô Subashini Das tìm đến với Mẹ Teresa xem ra rất hứa hẹn. Mẹ Teresa kể lại, “Sau năm 1949, tôi thấy có những thiếu nữ lần lượt tìm đến. Tất cả đều là các học sinh cũ của tôi. Họ muốn tận hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và rất nóng lòng muốn thực hiện điều đó.” Ngày 7.10.1950, vào ngày lễ Mẹ Mân Côi, Tòa Thánh Roma đã chuẩn nhận dòng Thừa Sai Bác Ái. Mười chí nguyện sinh được nhập tập viện với thời gian kéo dài hai năm.

Ngày 22.8.1952: Nhà Hấp Hối dành cho người cùng khổ được thành lập.

Lúc đó, trong dòng có khoảng 30 chị em. Khoảng 12 chị đã tuyên khấn trọn đời. Cũng có khoảng 12 chị khác là tập sinh và số còn lại là đệ tử. Các nữ tu cần có một trụ sở riêng. Lúc ấy họ vẫn là “khách trọ” sống trong một căn hộ thuê, do ông Michael Gomes tài trợ. Họ chuyên học tập và luyện tập đời tu trì, trong lúc vẫn chăm sóc các trẻ em bị bỏ rơi, các người đau yếu, và hấp hối nghèo khó tại các khu ổ chuột.

Mẹ Terresa liệu được một ngôi nhà để phục vụ cho những người hấp hối nghèo khó tại Ka-li-ghat, sát một đền thờ Ấn Giáo ở ngay trung tâm thành phố Calcutta. Ngôi nhà được khai trương vào dịp lễ Đức Mẹ ngày 22.8.1952, và lập tức bị quá tải, tình trạng này kéo dài như vậy suốt nhiều năm mặc dù luôn có người “xuất viện,” nhưng cũng luôn nhận thêm người mới. Ngôi nhà được đặt tên là Nirmal Hriday: Nhà của Trái Tim Thanh Khiết, một cái tên được người Ấn Giáo đồng ý, vì phần đông những người đến ngôi nhà này đều là các tín đồ Ấn Giáo.

9597


1953: Nhà Mẹ dòng Thừa Sai Bác Ái được kiến lập.

Sau những lời cầu nguyện như “giông tố” được dâng lên trời, các nữ tu dòng Thừa Sai Bác Ái đã mua được một ngôi nhà để làm tu viện, tọa lạc tại số 54 Lower Circular Road tại thành phố Calcutta. Ngôi nhà này rộng rãi và tọa lạc tại một địa điểm rất thích thuận cho các nhu cầu của dòng. Ngôi nhà này sau đó trở thành trụ sở chính của dòng Thừa Sai Bác Ái.

Gần đó, trên cùng một con đường, các nữ tu còn thuê một căn nhà khác và sau đó mua luôn để làm nhà cho các trẻ bị bỏ rơi và mồ côi trong các khu ổ chuột. Nhiều cha mẹ của các em này đã qua đời tại Nhà Hấp Hối dành cho những người nghèo khó.

Các nữ tu ngay từ đầu đã muốn mở một nhà cho những người cùi. Tuy nhiên, vì sự chống đối của dân chúng nói chung, nên các nữ tu phải lập các “trạm xá di động” giúp đỡ những bệnh nhân cùi. Sau đó, các chị mới lập được các trung tâm phục hồi cho các bệnh nhân phong cùi, gọi là Titagahr và Shanti Nagar, nằm ở ngoại ô thành phố Calcutta.

9598


1962: Mẹ Teresa được nhận các giải thưởng tại Á Châu.

Mẹ Teresa được vinh dự nhận giải thưởng Padna Sri của chính phủ Ấn Độ trao tặng và giải thưởng Magsaysay của các quốc gia Đông Nam Á thuộc tổ chức SEATO trao tặng. Mẹ được tuyên nhận là người phụ nữ xứng đáng nhất tại Á Châu. Tuy nhiên, tại phương Tây, Mẹ vẫn còn là một nhân vật vô danh đối với nhiều người.

Ngày 1.2.1965: Dòng Thừa Sai Bác Ái phát triển.

Dòng Thừa Sai Bác Ái đến thời điểm này đã ra đời được 15 năm, với một sức phát triển và lớn mạnh lạ thường. Dòng có khoảng 300 nữ tu và nhiều nhà. Cũng đã có những nữ tu thuộc các quốc tịch Âu Châu. Tuy nhiên, tất cả các nhà của dòng vẫn còn trong lãnh thổ Ấn Độ và thuộc quyền các giám mục địa phương. Với sự ủng hộ của nhiều vị giám mục, đức Phao-lô VI đã ban sắc khen cho dòng và nâng lên thành dòng thuộc quyền Tòa Thánh. Sắc lệnh ấy, cùng với lời mời của đức tổng giám mục Barquisimeto tại nước Venezuela, xin Mẹ Teresa mở một nhà tại giáo phận của ngài, đã giúp cho dòng Thừa Sai Bác Ái phát triển công việc của mình.

9599


1965-1971: Các nhà mới được mở thêm khắp thế giới.

Nhà tại Venezuela là nhà đầu tiên được khai mở ở nước ngoài. Trong những năm sau đó, các nhà kế tiếp được mở tại Phi Châu, Úc , Âu Châu (Anh, Ý) để đáp lại lời mời của các vị giám mục địa phương các nơi. Nhà đầu tiên của dòng Thừa Sai Bác Ái ở Ý được thành lập tại Roma để đáp lại lời mời của chính đức Phao-lô VI trong tư cách giám mục giáo phận Roma. Đức Phao-lô VI là một người rất ngưỡng mộ và là một ân nhân cho công việc của Mẹ Teresa. Đến năm 1971, dòng Thừa Sai Bác Ái đã có 15 nhà ở các nơi.

Ngày 26.3.1969: Hội cộng sự viên dòng Thừa sai Bác Ái chính thức được thành lập.

Các cộng sự viên của Mẹ Teresa trở thành một thực thể và một yếu tố quan trọng để xúc tiến các công việc của dòng Thừa Sai bác Ái. Thật khó khăn, nếu nói là không thể, xác định được con số chính xác vì sự phát triển liên tục, cũng như sự thiếu lưu ý của các Thừa Sai trong lưu giữ các con số thống kê chính xác. Ngay từ khi được thành lập dòng đã có những cộng sự viên. Ngày 3.3.1969, Đức Phao-lô VI đã chấp thuận qui chế cho các cộng sự viên của dòng và do đó, họ được chính thức sáp nhập vào dòng Thừa Sai Bác Ái.

9600


Ngày 12.7.1972: Thân mẫu của Mẹ Teresa, bà Ra-na qua đời.

Bà thân mẫu của Mẹ Teresa qua đời tại Albania. Bà cụ đã muốn bỏ Albania để đến Ấn Độ thăm người con gái và đến đảo Xi-xi-li-a để thăm người con trai trước khi qua đời, nhưng chính phủ Albania đã từ chối không cho cấp giấy xuất cảnh cho bà.

Năm 1974: Bà A-ga Bô-da-xi-u, chị của Mẹ Tê-rê-xa, qua đời.
Bà cũng qua đời tại Albania mà không có cơ hội được gặp hai người em đang ở nước ngoài.

Ngày 17.10.1979: Mẹ Teresa được nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình.

Trong những năm của thập niên 1970, một nhà báo người Anh là Malcolm Muggeridge đã làm cho Mẹ Teresa được lừng danh ở phương Tây, không những trong các giới Công Giáo mà còn cả ở ngoài xã hội rộng khắp. Kết quả, Mẹ đã được nhận giải thưởng “Người Sa-ma-ri-ta-nô Nhân Lành” của Hoa Kỳ; giải thưởng “Vì Tiến Bộ Tôn Giáo” của Anh Quốc, và giải thưởng Gio-an XXIII của Tòa Thánh Va-ti-can. Vào ngày 17.10.1979, Mẹ Teresa còn được nhận giải thưởng cao quí danh tiếng nhất trên hành tinh là giải thưởng Nobel về Hòa Bình. Tuy nhiên, bản tính giản dị và khiêm tốn của Mẹ không hề bị lay chuyển.

9601


Mẹ đã đón nhận giải thưởng từ tay vua (Olaf) của Na Uy, nhân danh những người nghèo khó mà Mẹ là đại diện và đã hiến cả cuộc đời để phục vụ.

1980-1985: dòng Thừa Sai Bác Ái mở thêm nhiều nhà mới và được chúc lành qua nhiều ơn gọi mới.

Năm 1980 hội dòng có 14 nhà bên ngoài Ấn Độ, tại nhiều nước khác nhau như Lebanon, Đức, Nam Tư, Mexico, Brazil, Peru, Kenya, Haiti, Tây Ban Nha,Etiopia, Bỉ, Niu Guinea, và Argentina. Sau khi Mẹ Teresa được nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình, tốc độ phát triển của dòng Thừa Sai Bác Ái rất ngạc nhiên: 18 nhà mới được mở chỉ trong năm 1981, 12 nhà trong năm 1982, và 14 nhà trong năm 1983. Dòng Thừa Sai cũng được chúc lành qua con số ơn gọi gia tăng, làm cho hội dòng trở thành một ngoại lệ trong thời đại ơn gọi các dòng tu nói chung bị giảm sút.

9602


Năm 1986-1989: Dòng Thừa Sai vào được cả những quốc gia trước kia vốn ngăn cấm các nhà truyền giáo.

Dòng Thừa Sai Bác Ái được phép mở các nhà tại các quốc gia vốn đóng kín đối với các nhà truyền giáo như Etiopia, và Nam Yemen. Hội dòng cũng được phép đến Nicaragua, Cuba, và Liên Xô là nơi chủ nghĩa vô thần được nhà nước tích cực cổ võ. Trong trường hợp của Liên Xô, một trong những kết quả của công cuộc Perestroika của Mikhai Gorbachev là cho phép Mẹ Tê-rê-xa được mở một nhà ở tại thủ đô Maxcova

Tháng 2.1986: Đức JOHN PAUL II đến thăm Calcutta.

Đức Thánh Cha đã đến viếng thăm Mẹ Teresa và tận mắt xem công việc của dòng Thừa Sai Bác Ái.

9603


Ngày 21.5.1988: Một nhà tại Vatican.

Dòng Thừa Sai Bác Ái mở một nhà trú cho những người vô gia cư ở Rô-ma, ngay tại Va-ti-can. Nhà này được gọi là “Món Quà của Mẹ Maria” để kỷ niệm năm Thánh Mẫu. Nhà trú này có 72 gường, và hai nhà ăn, một cho những người thường trú và một cho những người ghé qua. Nhà trú cũng có một phòng khách, một phòng y tế, một sân hiên đối diện với sảnh đường Đức Phao-lô VI.

Năm 1988-1989: Mẹ Tê-rê-xa phải vào bệnh viện hai lần.
Vì cơn bệnh đau tim, Mẹ Tê-rê-xa phải vào bệnh viện hai lần. Đây không phải là lần đầu tiên Mẹ đã lao lực quá mức và phải vào bệnh viện. Ngay cả Đức Thánh Cha cũng xin Mẹ hãy giữ gìn sức khỏe. Các bác sĩ của Mẹ đã phải lắp đặt một máy kích thích cơ tim hoạt động và ra lệnh cho Mẹ phải nghỉ ngơi sáu tháng.

Ngày 16.4.1990: Mẹ Tê-rê-xa từ chức bề trên tổng quyền của dòng Thừa Sai Bác Ái.

Vì lý do sức khỏe là chủ yếu, Mẹ Tê-rê-xa đã từ chức bề trên tổng quyền dòng Thừa Sai Bác Ái. Được rảnh khỏi các trách vụ, Mẹ có nhiều thời giờ hơn để đi lại và thăm viếng các nhà của chị em các nơi.

Tháng 9.1990: Mẹ Tê-rê-xa được yêu cầu ngưng thời gian nghỉ hưu và được tái đắc cử trong chức vụ bề trên tổng quyền của dòng Thừa Sai Bác Ái.

Nhận ra thiên khiếu tinh thần cá biệt và tài lãnh đạo hội dòng của Mẹ Tê-rê-xa, các nữ tu dòng Thừa Sai Bác Ái một lần nữa lại bầu Mẹ vào chức vụ bề trên tổng quyền của dòng, mặc dù Mẹ đã 80 tuổi và bệnh nạn yếu đuối về sức khỏe.

9604


Ngày 1.4.1994: Mẹ Teresa đến Việt Nam.

Mẹ cho biết Việt Nam là quốc gia thứ 111 có sự hoạt động của dòng Thừa Sai Bác Ái. Hai nhà tại Việt Nam là nhà thứ 501 và 502 của dòng.

Năm 1997: Mẹ Teresa qua đời.

Vì lý do sức khỏe, một lần nữa Mẹ Teresa không thể tiếp tục đảm trách công việc bề trên, và nữ tu Nirmala được bầu lên thay thế Mẹ. Cuối năm ấy, Mẹ đã từ giã trần gian.

9605

trithuc_nguyen
29-05-2010, 19:47
Mẹ Teresa trên tem Ấn Độ
94423

Poetry
11-11-2010, 13:39
114372

Mẹ Teresa có lẽ là cái tên thân thương mà cả thế giới không còn xa lạ gì. Tuy nhiên, cuộc đời và sự nghiệp thánh thiện của bà còn nhiều điều xứng đáng để hậu thế ghi nhớ kỹ càng hơn.

Mẹ Teresa là nữ tu Công giáo Rôma người Albania, và là nhà sáng lập Dòng Thừa sai Bác Ái ở Calcutta, Ấn Độ năm 1950.

Trong hơn bốn mươi năm, bà chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối, trong khi hoàn tất nhiệm vụ lãnh đạo dòng tu phát triển khắp Ấn Độ, và đến các quốc gia khác.

Bà được trao giải Nobel Hòa bình năm 1979 như một sự vinh danh cho các hoạt động nhân đạo của bà.

“Giúp đỡ người nghèo và sống chung với họ”

Teresa, tên thật là Agnes Gonxha, chào đời ngày 26 tháng 8 năm 1910 tại Skopje, lúc đó là thủ phủ của tỉnh Kossovo Vilayet thuộc Đế quốc Ottoman; nay là thủ đô Cộng hòa Macedonia. Từ khi còn thơ ấu, Agnes đã ham thích đọc các câu chuyện về cuộc đời các thừa sai và hoạt động của họ, đến tuổi 12 cô tin rằng nên hiến mình cho đời sống tôn giáo. Năm 18 tuổi gia nhập Dòng Nữ tu Loreto.

Teresa đến Ấn Độ năm 1929, và bắt đầu cuộc đời nữ tu tập sinh tại Darjeeling, gần dãy Himalaya. Ngày 24 tháng 5 năm 1931, cô làm lễ tiên khấn để trở thành nữ tu. Cô chọn tên Teresa theo tên Thérèse de Lisieux, thánh bổn mệnh của các thừa sai. Teresa dạy học tại trường Loreto ở phía đông Calcutta.

Mặc dù bận rộn với nhiệm vụ giảng dạy tại trường, Teresa ngày càng quan tâm đến cuộc sống nghèo khổ nhan nhản chung quanh cô tại Calcutta.

“Tôi phải rời tu viện để giúp đỡ người nghèo và sống chung với họ. Đó là mệnh lệnh. Không chịu tuân theo có nghĩa là đánh đổ đức tin”, Teresa khởi đầu công tác thừa sai giữa người nghèo bằng phương châm như vậy.

Teresa nhập tịch Ấn, và đi vào các khu nhà ổ chuột, mở một trường học ở Motjhil, rồi bắt đầu chăm sóc những người bần cùng đói khát. Vì không có nguồn cung ứng tài chính, Teresa phải phụ thuộc vào hoạt động quyên góp thực phẩm và nhu yếu phẩm. Trong những tháng đầu, Teresa phải đấu tranh với sự hoài nghi, đơn độc và sự cám dỗ quay trở lại cuộc sống tiện nghi trong tu viện.

Sứ mạng bác ái

Ngày 7 tháng 10 năm 1950, Vatican chấp thuận cho Teresa khởi đầu một dòng tu sau này trở thành Dòng Thừa sai Bác ái. Sứ mạng của dòng là chăm sóc “người đói khát, trần truồng, kẻ không nhà, người tàn tật, người mù, bệnh nhân phong, bất cứ ai đang cảm thấy thừa thãi, bị căm ghét, ruồng bỏ trong xã hội, những người đang là gánh nặng của xã hội và bị mọi người xa lánh”, theo như lời Teresa.

Khởi đầu chỉ là một dòng tu nhỏ với 13 tập sinh ở Calcutta; ngày nay có hơn 4.000 nữ tu điều hành các cô nhi viện, trại điều dưỡng AIDS, và các trung tâm từ thiện trên khắp thế giới. Dòng tu cũng chăm sóc người tị nạn, người khuyết tật, già lão, nghiện rượu, người nghèo và người vô gia cư, nạn nhân lũ lụt, dịch bệnh, và nạn đói.

Năm 1952, Mẹ Teresa mở ngôi nhà đầu tiên chăm sóc người sắp chết. Với sự hỗ trợ từ các viên chức Ấn, bà cho sửa một ngôi đền Ấn giáo hoang phế thành Nhà Kalighat cho người hấp hối, một trại điều dưỡng miễn phí cho người nghèo. Sau này bà đổi tên thành Kalighat, Nhà Thanh Tâm (Nirmal Hriday). Những người được mang đến đây được chăm sóc y tế và được chết trong nhân phẩm, được chôn cất theo niềm tin tôn giáo của họ; người Hồi giáo được đọc kinh Quran, người Hindu được tẩy rửa bằng nước sông Hằng, và người Công giáo được làm lễ xức dầu thánh.

Không lâu sau đó, bà mở một ngôi nhà cho những người mắc bệnh phong cùi, đặt tên là Shanti Nagar (Thành phố Hòa bình). Dòng Thừa sai Bác ái cũng thành lập một số cơ sở y tế mở rộng trên khắp Calcutta, cung cấp thuốc men, thực phẩm.

Năm 1955, Teresa mở Nirmala Shishu Bhavan, Nhà Trái tim Vô nhiễm đón tiếp trẻ mồ côi và thanh thiếu niên vô gia cư.

Dòng tu ngày càng thu hút nhiều tập sinh và nhận nhiều đóng góp từ thiện. Đến thập niên 1960, Dòng Thừa sai Bác ái thành lập các nhà điều dưỡng, trại mồ côi, và trại phong trên khắp Ấn Độ, rồi phát triển trên khắp thế giới. Ngôi nhà đầu tiên ngoài Ấn Độ được thành lập ở Venezuela năm 1965 với năm nữ tu. Năm 1968, đến La Mã, Tanzania, và Áo. Trong thập niên 1970, dòng tu thiết lập các ngôi nhà và tổ chức trong hơn mười quốc gia ở châu Á, châu Phi, châu Âu, và Hoa Kỳ.

Năm 1982, khi cuộc bao vây Beirut lên đến đỉnh điểm, Mẹ Teresa đã thành công trong nỗ lực giải cứu 37 trẻ em mắc kẹt trong một bệnh viện giữa mặt trận bằng cách đàm phán cho một cuộc ngừng bắn giữa quân đội Israel và du kích Palestine. Được các nhân viên Hồng Thập Tự hộ tống, bà băng qua trận địa để đến ngôi bệnh viện đổ nát và giải cứu các bệnh nhi.

Khi Đông Âu bắt đầu mở cửa vào cuối thập niên 1980, Teresa cho tiến hành hàng chục đề án tại các quốc gia trong vùng.

Mẹ Teresa đã đến Ethiopia cứu giúp những người bị nạn đói, đến Chernobyl giúp người nạn nhân phóng xạ, và đến với nạn nhân động đất ở Armenia. Năm 1991, lần đầu tiên bà trở lại quê hương và mở ngôi nhà Dòng Thừa sai Bác ái tại Tirana, Albnia.

Năm 1966, bà điều hành 517 cơ sở từ thiện trên hơn 100 quốc gia. Trải qua nhiều năm, Dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Teresa từ thành phần nhân sự chỉ 12 người đã phát triển đến hàng ngàn người phục vụ “những người nghèo nhất của dân nghèo” tại 450 trung tâm trên khắp thế giới.

Vượt qua khó khăn và chỉ trích

Tuy nhiên, triết lý hành động của bà gặp phải một số chỉ trích. Trong khi nhìn nhận rằng không có nhiều chứng cứ được đưa ra để chống lại Teresa, David Scott nhận xét rằng bà tự giới hạn mình trong phạm vi hoạt động nhằm cứu sống người khác thay vì nỗ lực giải quyết nạn nghèo đói.

Quan điểm của Teresa về sự đau khổ cũng bị phê phán bởi một bài viết đăng trên tuần báo Alberta Report của Canada, vì bà cho rằng sự đau khổ sẽ đem con người đến gần Chúa Giê-xu hơn.

Các tạp chí y khoa, nhất là The Lancet và British Medical Journal, tỏ ra quan ngại về cách chăm sóc bệnh nhân thời kỳ cuối tại những nhà dành cho người hấp hối, ghi nhận việc tái sử dụng kim tiêm dưới da, điều kiện sống tồi tệ, trong đó có việc tắm lạnh tất cả người bệnh, và không áp dụng phương pháp chẩn đoán phối hợp.

Tại Ấn Độ, cũng có những nhận định khác về Teresa. Aroup Chatterjee, một bác sĩ sinh trưởng ở Calcutta nhưng sống ở Luân Đôn và từng làm việc cho Dòng Thừa sai Bác ái cho rằng Teresa đã quảng bá một hình ảnh tiêu cực về thành phố này. Đảng Bharatiya Janata (BJP) từng bất đồng với Teresa về những người thuộc đảng cấp Dalit (hạ tiện) theo Cơ Đốc giáo, nhưng khi bà mất, họ đã lên tiếng ca tụng và cử đại diện đến dự tang lễ.

Vào dịp kỷ niệm năm thứ nhất ngày mất của Mẹ Teresa, Tạp chí Stern của Đức cho đăng một bài viết về những cáo buộc liên quan đến các vấn đề tài chính, và việc sử dụng các khoản quyên góp. Các tạp chí y học cũng đưa ra những chỉ trích làm dấy lên các quan điểm khác nhau về những ưu tiên đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.

Không hề nao núng khi bị chỉ trích về lập trường cứng rắn của bà về việc chống phá thai và li dị, bà chỉ nói, “Người ta nói gì cũng mặc, bạn chỉ cần cười và tiếp tục công việc của mình.”

“Mẹ Teresa là hòa bình của thế giới”

Ngày 13 tháng 3 năm 1997, Mẹ Teresa từ chức lãnh đạo dòng tu, và từ trần ngày 5 tháng 9 năm 1997.

Chính phủ Ấn Độ tuyên bố quốc tang để vinh danh con người từng cứu giúp nhiều người nghèo khổ thuộc các tôn giáo khác nhau trên đất nước Ấn. Trước đó năm 1962, bà được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru cho sự Hiểu biết Quốc tế (năm 1972), và năm 1980 là giải thưởng dân sự cao quý nhất Ấn Độ, Bharat Ratna

Năm 1962, Mẹ Teresa được trao giải Ramon Magsaysay về sự Hiểu biết Quốc tế cho những hoạt động của bà ở Đông và Nam Á.

Đến đầu thập niên 1970, Mẹ Teresa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới.

Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan trao tặng cho Mẹ Teresa Huân chương Tự do năm 1985. Cùng lúc, thế giới Công giáo khởi sự tôn vinh Mẹ Teresa. Năm 1971, Giáo hoàng Phaolô VI trao tặng bà Giải Hòa bình Giáo hoàng Gioan XXIII lần thứ nhất, khen ngợi bà về những gì đã làm cho người nghèo, thể hiện lòng nhân ái Kitô và nỗ lực đấu tranh cho hòa bình. Năm 1976, bà được trao Giải thưởng Pacem in Terris. Sau khi mất, giáo hội đẩy mạnh qui trình phong thánh cho Mẹ Teresa, hiện bà đã được phong chân phước.

Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan trao tặng cho Mẹ Teresa Huân chương Tự do năm 1985.
Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif khi còn tại chức đã nói rằng bà là “một cá nhân độc đáo và hiếm có, đã cống hiến đời mình cho những mục đích cao đẹp. Cuộc đời lâu dài của bà được dành để chăm sóc người nghèo, người bệnh, người bất hạnh đã trở thành một trong những hình mẫu cao quý nhất về lòng tận tụy phục vụ nhân loại.

Các chính phủ và những tổ chức dân sự cũng tìm đến tôn vinh Mẹ Teresa. Vương quốc Anh và Hoa Kỳ nhiều lần trao tặng bà giải thưởng các loại, cao quý nhất là Order of Merit của Anh Quốc năm 1983, và công dân danh dự của Mỹ ngày 16 tháng 11 năm 1996. Quê hương Albania của Mẹ Teresa cũng dành cho bà Huân chương Vàng Nhà nước năm 1994.

Đặc biệt, năm 1979, Mẹ Teresa được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho “những hoạt động diễn ra trong sự đấu tranh vượt qua sự nghèo khó và cùng quẫn, là những điều đe dọa hòa bình.” Bà từ chối bữa tiệc mừng truyền thống và yêu cầu gởi số tiền 192.000 USD cho người nghèo ở Ấn Độ, nói rằng những phần thưởng trên thế gian chỉ có giá trị khi nào chúng giúp ích những người thiếu thốn trên thế giới.

Khi nhận giải thưởng, bà đặt câu hỏi, “Chúng ta có thể làm gì để thăng tiến nền hòa bình thế giới?”, và đưa ra câu trả lời, “Hãy về nhà và yêu chính gia đình mình.”

Cựu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Javier Pérez de Cuéllar nhận xét: “Bà là Liên Hiệp Quốc. Bà là hòa bình của thế giới”.

Poetry
11-11-2010, 14:23
Nhân kỷ niệm 100 năm sinh của Mẹ Teresa (1910 - 2010), nhiều nước trên thế giới đã phát hành tem về bà. Chương trình xây dựng đề tài phát hành tem năm 2010 của Việt Nam cũng có đề cập đến 1 bộ tem kỷ niệm 100 năm sinh của Mẹ Teresa nhưng rất tiếc đã không được phát hành.

Xin giới thiệu những mẫu tem kỷ niệm 100 năm sinh của Mẹ Teresa do thế giới phát hành.

2 nước MACEDONIA (quê hương Mẹ Teresa), ALBANIA và khu vực KOSOVO phát hành chung cùng 1 mẫu thiết kế.

MACEDONIA

114386

ALBANIA

114380

KOSOVO

114547

114387

FDC phát hành chung do Albania phát hành với 3 tem & 3 dấu.

Poetry
12-11-2010, 19:32
Áo

114531

Monaco

114532

Đức

114533

Ireland

http://www.vietstamp.net/forum/attachment.php?attachmentid=114372&d=1289461484

Poetry
13-11-2010, 21:35
Antigua & Barbuda

114572

Poetry
22-11-2010, 15:32
Hoa Kỳ

115583

Pháp

115584

Serbia

115586

Bosnia & Herzegovina

115585

Poetry
23-11-2010, 17:30
Sao Tomes and Principle

115649

115650

trithuc_nguyen
26-11-2010, 21:11
Dominica - 1 mimisheet rất đẹp và ý nghĩa!
115845