Quay lại   Diễn đàn/Forum VIET STAMP (VSF) > GIẢI TRÍ - THÔNG TIN TỔNG HỢP > Tiệm buôn dưa

Trả lời
 
Công Cụ Hiển Thị Bài
  #1  
Cũ 03-07-2013, 16:31
VAPUTIN's Avatar
VAPUTIN VAPUTIN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Tem Không Răng
 
Ngày tham gia: 30-01-2013
Bài Viết : 1,047
Cảm ơn: 1,502
Đã được cảm ơn 6,361 lần trong 1,062 Bài
Mặc định Tản mạn về phương ngữ Nam bộ

PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ - NÉT ĐẶC SẮC CỦA VĂN HỌC ĐBSCL, CẦN LƯU GIỮ

LÊ XUÂN
(Hội Nhà văn TP Cần Thơ)


Phongdiep.net

1- “Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng quý báu và lâu đời của dân tộc” (Bác Hồ). Vì thế việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt là rất quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, trong quá trình giao thoa văn hóa giữa các vùng, các miền, các nước… một bộ phận ngôn ngữ cũng bị “cải cách” theo, hoặc bị biến dạng, biến thể theo chiều hướng có lợi, hoặc có hại. Nó sẽ làm rối thêm, làm mất đi bản sắc dân tộc của từng vùng, từng miền trên một đất nước từ lâu đã có sự thống nhất về chữ viết và ngôn ngữ.

Trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay, nhiều thứ có thể “hòa tan”, “hòa hợp”, “biến màu”, “biến chất”, thì ngôn ngữ liệu có thoát khỏi guồng quay đó? Song, chúng ta cũng không đáng lo ngại lắm về sự “xâm thực” của ngôn ngữ ngoại lai, nhất là thứ ngôn ngữ “chát” trên mạng của thế hệ 8x, 9x… Bởi dân tộc ta từ lâu đã có quá trình giữ gìn và phát triển vốn ngôn ngữ của toàn dân. Bằng chứng rõ nhất là chữ Hán của Trung Hoa một thời gian dài mấy thế kỷ được dùng làm văn tự, nhưng sau đó ông cha ta cũng chỉ “mượn” để sáng tạo ra chữ Nôm. Một số từ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga… khi vào Việt Nam cũng bị “biến đổi” cho phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của người Việt. Những người có công trong việc “Việt hóa” một số từ ngữ đó, phần lớn là tầng lớp trí thức có trình độ cao. Và chúng ta không thể không kể đến vai trò của các nhà văn, nhà thơ, những người đã dùng ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ bác học để đưa vào tác phẩm văn chương, phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người và xã hội. Riêng ở Nam Bộ, phương ngữ thể hiện khá rõ trong các tác phẩm văn học, trên các phương diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và phong cách diễn đạt

2- Về mặt địa lý, Nam Bộ được tính từ các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh đến Cà Mau. Phương ngữ Nam Bộ có những nét khu biệt với phương ngữ Bắc Bộ hay Trung Bộ, mà những phương ngữ khác khó xâm nhập. Nếu ở miền Bắc tiếng Hà Nội khác tiếng Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình… thì ở Nam Bộ tiếng Sài Gòn và tiếng 13 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL nói chung không khác nhau mấy. Nghĩa là chúng có sự thống nhất tương đối cao. Nếu phần lớn các tỉnh phía Bắc gọi cái bát, Nghệ An, Hà Tĩnh gọi là cái đọi, thì ở Nam Bộ gọi là cái chén. Nếu ở các tỉnh phía Bắc nơi thì gọi cha- mẹ, bố- mẹ, thầy- u, nơi gọi là cậu -mợ, bố- bầm, thầy- bu, ải- êm (người Thái)… thì ở Nam Bộ gọi là ba- má, tía- dú. Ngược lại, có một số từ ngữ ở miền Bắc, miền Trung gọi bằng một tên, như: thuyền hay đò thì ở Nam Bộ lại có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ rõ đặc trưng, công dụng, kích cỡ của mỗi loại khi tham gia giao thông thủy, như: tàu, ghe. Riêng loại “ghe” có tới hơn chục tên gọi: ghe chài, ghe be, ghe bầu, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, ghe tam bản, rồi xuồng ba lá, vỏ lãi, tắc ráng, trẹt… Chỉ ghe thương hồ của người Gia Định, ca dao có câu:
Ghe ai đỏ mũi xanh lườn
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em.
Gọi nước lên hay xuống, ở Nam Bộ có tới mấy chục từ ngữ để diễn tả, như: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nước bò… Riêng nước ròng còn được phân biệt: nước ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng rặc, nước ròng kiệt, hay còn gọi tắt là nước cạn, nước sát, nước rặc, nước kiệt.
(* Xem phụ lục: Bảng đối chiếu so sánh ba nhóm phương ngữ tiếng miền Bắc, miền Nam)
Trong quá trình giao lưu giữa các vùng, miền, các dân tộc trong và ngoài nước thì một số phương ngữ Nam Bộ đã có sự vay mượn làm phong phú thêm vốn từ ngữ của cộng đồng cư dân ở xen lẫn nhau, như: nói “sáng say, chiều xỉn, tối xà quần” thì đều chỉ người say rượu ở những mức độ khác nhau (người Kinh gọi là say, người Hoa gọi là xỉn, người Khmer gọi là xà quần).

Trong các tác phẩm văn học của Nam Bộ, ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử, từ ngữ dùng cũng khác nhau. Một số từ ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh những năm đầu thế kỷ XX nay ít dùng.
Ví dụ: Ông miêu tả cảnh ngoài đồng ruộng chỉ bằng vài nét đơn sơ mà gây ấn tượng: Một bữa nọ nhằm tiết tháng bảy, trời mưa lu ầm, lu ỳ. Ngoài đồng nông phu làm lăng xăng, người thì phát cỏ, kẻ thì lo trục đất. Mấy đám mạ gió thổi dợn sóng vàng vàng, trong hào ấu trái già cuống đỏ đỏ (Phụ nữ Tân văn – số 32, trang 31). Và đây là cảnh ngoài đồng với bao màu sắc âm thanh ở một vùng quê Nam Bộ cách ta gần thế kỷ: Mặt trời chen lặn, ếch uệch oạc kêu vang mé hào, trâu no nần đi lần về xóm. Lúa cấy đã giáp đông hết rồi, đám nào chưa bén thì coi vàng khè, đám nào đã nở thì coi xanh mướt. (Phụ nữ Tân văn số 35, trang 30).

Trong các câu hò, điệu lý Nam Bộ thì phương ngữ khi chân chất, mộc mạc, khi gồ ghề, gai góc. Hãy nghe lời một chàng trai Nam Bộ chọc ghẹo cô gái: Con cò nó mổ con lươn/ Bớ chị ghe lườn muốn tía tôi hôn? Hay: Anh thương em từ đầu tới đít/ Đêm anh muốn nằm khít bên em. Hoặc: Gío đưa buồn ngủ lên bờ/ Mùng em có rộng cho qua ngủ nhờ một đêm? Hay: Xắn quần em lội qua lung/ Quần em lỡ tụt anh hun chỗ nào?/ Anh hun thì hun má đào/ Quần em lỡ tụt cắm sào ngủ luôn.

Sau Hồ Biểu Chánh, nhiều nhà văn Nam Bộ là bậc thầy sử dụng phương ngữ, như: Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Đức, Trang Thế Hy, Anh Động… Lớp kế tiếp có: Lương Hiệu Vui, Nguyễn Thanh, Võ Đắc Danh, Nguyễn Lập Em, Hồ Tĩnh Tâm, Phan Trung Nghĩa, Ngô Khắc Tài, Phạm Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Diệp Mai, Anh Đào, Trầm Nguyên Ý Anh…
Nhưng sử dụng phương ngữ Nam Bộ hiện đại thì nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư thành công hơn cả. Cũng tả cảnh, tả người và sự việc nhưng ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư trong các truyện ngắn đã khác xa thời Hồ Biểu Chánh và các anh chị trước mình. Nhiều từ ngữ Nam Bộ được chị đưa vào đúng lúc đúng chỗ, khắc họa chiều sâu tâm lý nhân vật và cảnh sắc thiên nhiên vùng sông nước. Ví dụ: Ai đó vãi từng chùm chim én lên cao, chúng cố chao liệng để khỏi phải rơi như lá… Ngôn ngữ trong các truyện ngắn, ký, tản văn của Nguyễn Ngọc Tư vừa dân dã, mộc mạc vừa gần gũi, tươi tắn.

Đến với văn của chị, độc giả có thể hình dung rất rõ về vùng đất Nam Bộ. Từ những mé đìa lục bình, đám trâm bầu, chòm quao, trái giác nấu canh chua bông súng đến cách gọi tên nhân vật: anh Hai Nhớ, dì út Thu Lý, dì Tư, út Thà, Sáu Tâm… hay lời ăn tiếng nói thường ngày: trời đất, chèn ơi, đúng chóc hà, nói gì lãng xẹt vậy ta, nói chơi hoài, như vầy, chút đỉnh, mình ên… đều gợi lên dáng hình thiên nhiên, con người xứ sở miền Nam. Có lần chị đã tự bộc bạch về văn mình một cách rất thật thà trước các đối tượng độc giả Đôi lúc ví văn của mình như quả sầu riêng, người thích thì nói nó thơm, người không thích thì chê rằng thúi.
Văn của Nguyễn Ngọc tư có nhiều so sánh, miêu tả độc đáo: Những trái dưa hấu bóng mẩy thẳm xanh chất tầng tầng trên chợ (Giao thừa). Tả dòng sông như một người bạn tâm tình với nhiều từ láy: Đêm sông trăng, ngồi trên nhà có thể nhìn thấy một dòng chảy líu ríu, sáng loáng. Ban đêm, con sông trước nhà tôi không ngủ, nó thức theo những chiếc tàu rầm rì chảy qua, theo tiếng mái chèo quẩy chách bụp rất đều.Có những câu văn kể xen tả thật ấn tương, gợi cảm: Bây giờ, gió chướng non xập xòe trên khắp cánh đồng bất tận. Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như những đường viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa.

Chất giọng đặc sệt của miệt vườn Nam Bộ không lẫn vào đâu được: Buổi chiều đi làm mướn về, họ tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm dùng để rửa rau, rửa rau xong dành rửa cá. Cảnh sắc Nam Bộ tràn vào trong tác phẩm cứ gần gũi, tự nhiên như chính vùng đất ấy: Cù lao Mút Cà Tha nằm gần cuối sông Dài, trên nó một chút có một nhánh sông khác rẽ về phía mặt trời, rộn rịp được đoạn đó rồi thôi.
Còn đây là miêu tả tâm lý nhân vật có số phận hẩm hiu, éo le:: Bữa kia mới ác, thấy Bi lon ton chơi một mình ngoài sân, bỗng không kìm được, Xuyến xốc Bi lên chạy một đoạn rồi thất thần dừng sững lại, kêu lên hai tiếng, trời ơi, mình làm khổ nó rồi, mình nghèo như vầy…(Duyên phận so le)
Chị luôn khám phá những suy tư, trăn trở, dằn vặt trong tâm hồn nhân vật: Đâu có. Có mà, nước mắt anh rớt lên con tướng này nè, đó, nó ướt nhẹp đó thấy chưa. Hết cười lớn, nói lớn, ừ, tại tao thương con chốt. Qua sông là không mong về… Nhiều câu văn giàu cảm xúc, chứa chất hoài niệm: Ra tới lu nước bà tựa người vào đó, mặt soi xuống nước, bật khóc. Ước gì nước đừng trong như vậy để khỏi phát hiện một nhan sắc tàn phai. Với những lời độc thoại nội tâm sâu sắc có sức cuốn hút: Ông Sáu ngừng lại, lấy tay quệt nước mắt, cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại? (Biển người mênh mông).

Ở “Cánh đồng bất tận” giọng văn thật day dứt, trăn trở: Sau giấc ngủ dài, bản năng nó không trở dậy. Trái tim nó chỉ là hòn than nhỏ, không thể hâm nóng lại cơ thể đã ngã màu tro. Sợi dây xúc cảm như lối đi lâu lắm không người lui tới, cỏ dại mọc bít mất, đường đứt, cầu gẫy. Ở đó luôn ẩn chứa những trăn trở, suy tư và nỗi niềm yêu thương: Đàn bà, với cha, càng trải nghiệm càng chán chường. Càng gieo rắc càng đau. Vết thương cũ mở miệng toang hoác, không da thịt nào có thể lấp đầy…Với ký ức trống trơn, họ phơi phới ra đi, còn mình thì nhớ hoài, đau hoài… Hàng loạt câu hỏi tu từ buông ra như tiếng kêu thống thiết trước cuộc đời đa đoan: Có ai chờ chúng tôi trên những cánh đồng khơi, Đêm nay tôi sao thế này? Vì nhìn thấy niềm hy vọng ư? Và tôi ngủ trong nỗi xốn xang… Mà, đã ngấm, đã xé toang lòng với nỗi đau chia cắt rồi chưa sợ sao?.
Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét về văn Nguyễn Ngọc Tư: Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rợi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào như các tác giả Nam Bộ đi trước…

Nói đến phương ngữ Nam Bộ ta không thể không nhắc đến tác giả viết ký xuất sắc Võ Đắc Danh trong những năm gần đây. Hãy chầm chậm đọc một đoạn văn trong bài ký “Mẹ tôi” của anh để thưởng thức chất Nam Bộ ấy: Mẹ tôi phải ra đồng từ lúc hừng đông cho đến khi hàng xóm lên đèn, tấm thân gầy lần mò trên bờ mẩu giữa tiếng nhái bầu đồng thanh một khúc nhạc buồn trên đồng nước bao la khi trời chạng vạng. Đêm đêm, tôi ngủ bằng điệu ru của tiếng ống bả chấp chân trong căn nhà dột nát, mẹ phải che cho tôi bằng những tấm lá chầm.
Hay trong bài ký “Rơm rạ dại khờ”, văn của Võ Đắc Danh như “thơ văn xuôi”, rất giàu so sánh liên tưởng, nhịp điệu: Chị mặc bộ bà ba màu đen, cái dáng cao cao,... từng cơn gió lùa qua, chị nghiêng vành thúng, lúa hột tuôn xuống, lúa lép bay bay, bụi rơm bay bay, tà áo chị cũng bay bay,... ngược theo chiều gió là..., những đường nét cong của vòng eo, vòng ngực căng tròn. Tôi cứ nhìn ngẩn ngơ... và, tôi không ngờ khi mình không còn “dại khờ” như chị nghĩ thì đó lại là mùa lúa cuối cùng tôi được gần gũi chị... khi tôi biết được tình yêu thì hình ảnh người con gái trong tôi là chị. Là chị với những giấc ngủ trưa trong chòi rạ giữa đồng, là chị với đôi thùng nước, chiếc đòn gách oằn vai đi giữa đồng rạ khô trong bóng chiều thấp thoáng, quần áo ướt mem bó sát thân gầy, là chị ngồi dưới cây rơm quấn từng con cúi làm bếp um trâu, là chị ngồi đốt rơm sáng bừng cả một khúc sông,... là chị..., ngực căng tròn đứng trên giàn giê lúa…

Còn thơ thì nhiều tác giả đưa phương ngữ Nam Bộ vào khá thành công. Trong đó phải kể đến các nhà thơ: Lê Chí, Nguyễn Bá, Kim Ba, Vũ Hồng, Trịnh Bửu Hoài, Phù Sa Lộc, Đinh Thị Thu Vân, Song Hảo, Thu Nguyệt, Thai Sắc, Hữu Nhân, Trương Trọng Nghĩa, Lê Ái Siêm, Võ Tấn Cường, Huỳnh Thúy Kiều… Xin dẫn đôi câu thơ Vũ Hồng trong bài “Người phương Nam” để bạn đọc rõ hơn một nét tính cách của người Nam Bộ - những người mang trong mình dòng máu của Đồ Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị…rất hào phóng, hào hiệp, điệu nghệ, bao dung:
Người phương Nam khá sắc
Người phương Nam ngày xưa áo tơi
Dòng Hàm giang cuộn sóng không lời
Đêm sâu đối ẩm tràn chung rượu
Rượu say tim bốc đến tận trời
Người phương Nam say thì say trọn
Người phương Nam buồn thì buồn sâu.

Và đây là những câu thơ đầy ám ảnh của nhà thơ trẻ Huỳnh Thúy Kiều ở Cà Mau:
Cá lìm kìm rượt nhau xé dòng vọng tưởng
Châu thổ buồn
thèm vực khúc đỗ quyên.
(Theo em về vùng cổ tích)
Đồng ngửa cổ
Ào ào cơn ngực sấm
Dẫm cuồng phongVác cuốc bửa màu chiều.
Con dế nhủi khóc đêm thanh vắng
Lẻ bạn tình nước mắt chảy trăng non.
(Nói với quê hương)

Nghiêng vạt gió hứng ánh trăng từ đỉnh trời rơi xuống
Chuông thời gian gõ vỡ đêm thượng tuần
Anh đã gặt xong mùa bão táp
Thu vào mây bóng kinh thành buốt nụ sao hoa.
(Cổ tích cho em)

Mùa hạ run nỗi niềm giáp hạt
Cỏ ngậm đầy
nụ đắng cánh đồng xưa …
(Thiên đường cây xanh lá)
3- Tuy nhiên, khi lạm dụng phương ngữ Nam Bộ quá nhiều thì sẽ làm cho câu văn, câu thơ thêm rối rắm, khó hiểu đối với nhiều người ở những vùng, miền khác, làm giảm sự trong sáng của tiếng Việt. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong phương ngữ Nam Bộ nói riêng và ngôn ngữ nói chung là một điều cần thiết trước sự xâm thực của ngôn ngữ ngoại lai trong thời hội nhập quốc tế. Ngày nay, trước sự bùng nổ về thông tin trên các phương tiện truyền thông như báo nói, báo hình, báo viết, báo điện tử trên internet… nhiều người dùng “ngôn ngữ lóng” để buôn bán, hay “ngôn ngữ chát” của giới trẻ để giao lưu, và sáng tác trên các website, blog làm mất đi bản sắc của ngôn ngữ tiếng Việt. Đó là điều đáng báo động! Để kết thúc bài viết nhỏ này, tôi xin dẫn một đoạn trong bài thơ vui Tình yêu tin học của tác giả Văn Thông đăng trên báo QĐND với những từ ngữ của giới Tin họcđã bước vào văn chương:
Miền domainanh vẫn mãi đi tìm
Lạc chốn nào trong hàng triệu website
Đến thăm em bằng địa chỉ email
Niềm thương nhớ trải dài trên keyboard.
Chân tình em chẳng thể nào download…
L.X
---------------------------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Đào Duy Anh: Hán - Việt từ điển - NXB Trường Thi - Sài Gòn, 1957.
2- Nguyễn Văn Ái chủ biên: Từ điển phương ngữ Nam Bộ - NXB TP HCM, 1984.
3- Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường: Văn hóa và cư dân ĐBSCL, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1990.
4- Nguyễn Du: Truyện Kiều - NXB Văn học, Hà Nội, 1980.
5- Mạc Đường: Qúa trình phát triển dân cư và dân tộc ở ĐBSCL từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX – Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3 (204)/1982.
6- Nguyễn Đình Khoa: Loại hình nhân chủng và nguồn gốc lịch sử người KhmerNam Bộ- Tạp chí Dân tộc học số 9/1981.
7- Trần Ngọc Lang: Phương Ngữ Nam Bộ - NXB KHXH, Hà Nội, 1995.
8- Sơn Nam: Nói về miền Nam, cá tính miền Nam, thuần phong mỹ tục Việt Nam - Biên khảo - NXB Trẻ, 2007.
9- Sơn Nam: Lịch sử khẩn hoang miền Nam- NXB Sài Gòn, 1973.
10- Lưu Văn Nam: Người Khmer Nam Bộ xưa và nay - NXB TP Hồ Chí Minh, 1999
11- Vũ Ngọc Phan: Ca dao, dân ca, tục ngữ Việt Nam - NXB KHXH, Hà Nội, 1980.
12- Vương Hồng Sển: Từ vị Tiếng Việt miền Nam - NXB Văn học, 1993.
13- Huỳnh Công Tín: Từ điển Từ ngữ Nam Bộ - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội, 2009
14- Huỳnh Công Tín: Cảm nhận bản sắc Nam Bộ - NXB Văn hóa - Thông tin, 2006
15- Ngô Đức Thịnh: Người Khmer ĐBSCL là thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam- Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 3 (216)/1984.
16- Bùi Đức Tịnh: Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam Bộ - NXB Văn Nghệ TP
Hồ Chí Minh, 1999.
17- Phan Thị Yến Tuyết: Tín ngưỡng cúng việc lễ- một tâm thức về cội nguồn của cư dân Việt khẩn hoang tại Nam Bộ - Tạp chí Dân tộc học số 1(101)/1999.
18- Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ: Ca dao - dân ca ĐBSCL - NXB Văn Nghệ, 2001.
19- C.Mac- Ph.Ăng-ghen - V.I Lê-nin: Về Văn học và Nghệ thuật - NXB Sự thật, TP Hồ Chí Minh, 1977.
20- Vũ Ngọc Phan: Ca dao, dân ca, tục ngữ Việt Nam - NXB KHXH, Hà Nội, 1980.
21- Vương Hồng Sển: Từ vị Tiếng Việt miền Nam - NXB Văn học, 1993.
22- Nhiều tác giả: Cơ sở Lý luận văn học - 3 tập - giáo trình ĐH Sư phạm Hà Nội, 1984.
23- Nhiều tác giả: Văn hóa sông nước Cần Thơ - NXB Văn Nghệ, TP HCM, 2009.
24- Nhiều tác giả: Từ điển Văn học - Tập I & II -NXB Khoa học Xã hội - Hà Nội, 1983.
25- Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ: Từ điển Tiếng Việt - Hà Nội - Việt Nam, 1992.
26- Một số bài trên Internet của các tác giả: Phạm Văn Tình, Đông La, Chu Thị Thơm, Võ Tấn Cường, Ngô Khắc Tài, Nguyễn Thị Hoa, Bùi Thị Ngọc Ánh, Hồ Trường, Lê Văn Thảo, Tiểu Quyên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phạm Đình Minh, Tiêu Đình, Thái Phan Vàng Anh, Lê Thiếu Nhơn, Phong Điệp, Trần Nhương, Nguyễn Ngọc Tấn…
27- Một số bài trên Tạp chí: Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ và Đời sống, Tạp chí Văn học, Tạp chi Xưa và Nay, Tạp chí Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Tạp chi Kiến thức ngày nay, Tạp chí Tài hoa trẻ, Tạp chí Thế giới mới, Tạp chí văn nghệ của 13 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL
28- Một số bài trên báo: Văn Nghệ, Văn Nghệ trẻ, Tuần báo Văn Nghệ TP HCM, báo địa phương của 13 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL.
29- Văn của các tác giả: Hồ Biểu Chánh, Lê Văn Thảo, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam, Anh Đức, Trang Thế Hy, Anh Động, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Đắc Danh, Nguyễn Thanh, Nguyễn Lập Em, Hồ Tĩnh Tâm, Phan Trung Nghĩa, Ngô Khắc Tài, Phạm Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Diệp Mai, Anh Đào, Trầm Nguyên Ý Anh…
30- Thơ của các tác giả: Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Lê Chí, Nguyễn Bá, Đinh Thị Thu Vân, Nguyễn Đình Bổn, Vũ Hồng, Kim Ba, Bùi Văn Bồng, Huỳnh Thúy Kiều, Trịnh Bửu Hoài, Phù Sa Lộc, Đinh Thị Thu Vân, Song Hảo, Thu Nguyệt, Thai Sắc, Hữu Nhân, Trương Trọng Nghĩa, Lê Ái Siêm, Võ Tấn Cường… Nhà thơ Nga Raxum Gazatop và Maiacopski…
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
8 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn VAPUTIN vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
asahi (05-07-2013), Dat_stamp (05-07-2013), HanParis (03-07-2013), hat_de (06-07-2013), manh thuong (06-07-2013), nam_hoa1 (04-07-2013), Ng.H.Thanh (05-07-2013), Tien (05-07-2013)
  #2  
Cũ 03-07-2013, 17:58
HanParis's Avatar
HanParis HanParis vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
 
Ngày tham gia: 19-02-2013
Đến từ: Paris - France
Bài Viết : 4,031
Cảm ơn: 10,439
Đã được cảm ơn 20,161 lần trong 3,980 Bài
Talking

Nhiều từ Nam Bộ của miền Tây Đô không biết dân Hà Nội có quán triệt không đây? Trên mọi miền tổ quốc từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, mỗi nơi đều có cái hay, cái duyên dáng Việt Nam. Và ngôn ngữ lại biến hóa theo thời gian, triết lý sống của con người. Ai cũng biết ngôn ngữ cũng có thể thay đổi theo chiều LS. Trịnh từng nhắc ta 'Một Nghìn Năm Độ Hộ Giặc Tàu, Một Trăm Năm Nô Lệ Giặc Tây' cho nên tiếng Việt đã mượn một số từ của TQ, của Anh Pháp... Chưa kể tiếng Lóng là ngôn ngữ riêng của từng vùng, từng nhóm người. Và với tánh trào phúng, Hàn thích nhất là chữ...Đéo trong tiếng Việt! Tiếng Việt mà, ace cảm phiền 'Một Trăm Lần Tục, Một Chục Lần Thanh'.

Hàn đoán Bắc Trung Nam gì cũng hiểu mà.
Đồng nghĩa với bài Không của NS Nguyễn Ánh 9. Anh Huệ của 4R có ST bìa bài... Đ. của Nguyễn Ánh 9 không nhỉ? Mời Ace đọc chơi bài phiếm luận về chủ đề : Đời Là Một Chữ Đ. nhá!

Văn Hóa Đéo
Hà Lệ Nhân

Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi tìm nhà của một người quen làm trưởng một khu phố văn hóa. Vào một con hẻm, tôi gặp một ông cụ đi ngược chiều, tôi lễ phép hỏi thăm nhà bạn tôi, ông cụ nghễnh ngãng nghe tôi nhắc lại câu hỏi hai ba lần, ông lấy tay nghiêng một bên tai và lắc đầu trả lời: Tôi…đéo hiểu ông nói gì cả! ” Tôi không buồn, đi tiếp. Thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngoài ngõ, tôi hỏi: Này các cháu có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa ở đâu không?


Một đứa bé trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mãnh, đáp gọn lỏn: Biết, nhưng đéo chỉ!”


Tôi lắc đầu đi sâu vào ngõ văn hóa, gặp một thanh niên hỏi: Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào không anh?.


Gã trẻ tuổi này chẳng thèm dòm ngó gì đến tôi, trả lời cộc lốc: “Đéo biết!


Khi gặp ông trưởng khu phố văn hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở: Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây đã không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với người khách lạ, thô bỉ đến thế hả anh?!


Chẳng cần suy nghĩ gì, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay: Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó đéo nghe!”


Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo, dạy môn văn, vừa đi dạy về và tôi đem chuyện ấy ra kể lại. Thay vì trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một chuyện như sau :


- Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ v.v… Cuối cùng, cháu kêu một em học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ: dũng cảm là gì? Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn:Nghĩa là… là…đéo sợ!”


Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông thứ trưởng về định hướng giáo dục XHCN, liền đem chuyện thằng bé học trò đã cắt nghĩa 2 chữ Dũng cảm là: đéo sợ, cho ông nghe. Nghe xong, ông thứ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn cháu, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa khám phá ra một chân lý, chậm rãi đáp:


- Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng đéo sai!
- !!!
- Ðấy, bây giờ luân lý, đạo đức của con người như thế đấy. Đất nước kiểu nầy thật là đéo khá!] (Hà Lệ Nhân- Viet Net).

Tác giả: Thụy Khê
Xuân đi làm vắng, cô tôi bảo Xuân làm ở sở chế biến liên hiệp, tôi chưa quen với những danh từ mới nên nhiều khi chữ nọ xọ chữ kia. Thằng Tường (15 tuổi, con Xuân) đang ngồi trên phản phì phò điếu thuốc, tôi cũng chẳng biết gọi là thuốc gì, thuốc lá hay thuốc rê. Thấy nó hút thuốc tôi để ý nhìn lũ trẻ chơi trong xóm, nhiều đứa nhỏ hơn nó cũng phì phèo hút lách như thế cả. Đang chuyện trò với cô tôi thì một đứa bạn đến gọi nó ơi ới :


- Đ.. mẹ thằng Tường có lên Đồng Xuân bây giờ không đấy hả? Để bố mày chờ mãi, muộn đéo nó rồi còn gì?


Thằng Tường đủng đỉnh trả lời :
- Thủng thẳng ông lấy cái xe đạp ông ra ngay, có động mồ động mả cha mày đâu mà rối lên thế?


Rồi nó lững thững kiểng chân lên giường, nghễn cổ, với cái xe đạp cũ treo trên trần bằng sợi dây thừng khá chắc, gọn gàng và nhẹn lắm, nó tháo dây thừng, lôi chiếc xe xuống, lí nhí chào tôi rồi đi. Cô tôi dặn với:


- Đừng la cà, về ngay con nhá!
Hai thằng bạn lại cười nói như không, câu chuyện lại nổ như pháo rang, mỗi câu lại mang mồ mả, cha ông làm chấm phẩy. Hình như tôi không thấy cô tôi thở dài.
(Thụy Khuê: Cô tôi)

Tác giả: Đỗ Bảo Châu
Tôi chỉ xin kể chuyện ở những quán cóc ngày nay. Đa số (nếu không muốn nói hầu hết) khách là thanh niên. Trong số thanh niên, thì đa số là mới lớn, thậm chí ở tuổi vị thành niên. Họ ăn mặc rất diện, luôn đúng ‘mốt’. Đầu tóc thật… phong phú. Thôi thì nhuộm đủ màu nâu, vàng, đỏ. Thậm chí có cậu thanh niên mà tóc trắng phớ như ông già. Họ vào hàng, gọi nước trà, nước ngọt, hút thuốc phì phèo. Và, đặc biệt nhất là nói cười như pháo nổ.


- Này! Đ.. mẹ, thằng Cường bọt vừa sắm con ‘ét hát’, mày biết chưa?
Quả thật tôi thấy rùng mình vì câu chuyện của mấy cậu, mấy cô choai choai này. Xin phép độc giả, tôi không dám ghi tiếp lời thoại của họ. Nói một câu độ mươi cụm từ, thì họ đệm tới vài chục câu chửi thề. Nghĩa là ‘chất độn’ nhiều hơn ‘nguyên chất’. Một điều hết sức ngạc nhiên, là kể cả những cô gái choai, quần áo rất mốt, cũng đệm nhiều cụm từ chửi thề, thường thì chỉ có nam giới dùng. Họ đều ở tuổi 8x, 9x. Cũng có nghĩa họ sinh ra và lớn lên ở một môi trường mới, đời sống nâng cao, văn hoá cũng nâng cao. Gia đình họ – có thể nói – hầu hết khá giả. Đặc biệt, họ đều là người Hà Nội. Thậm chí gia đình đã sống lâu đời ở Hà Nội.


Chúng tôi thường nói một cách hài hước và cay đắng rằng, cái lớp thanh niên với ‘Nền văn hoá không rõ nguồn’ này, không thấy xấu hổ đã đành, lại còn phô diễn cái văn hoá rất …thiếu văn hoá ấy, ở chỗ đông người, nơi có cả các bậc cha chú của mình. Và, xin hãy coi chừng, nếu bạn có một câu góp ý, dù chỉ nhẹ nhàng từ tốn, không những không nhận được sự tiếp thu, mà còn bị gây sự lại, thậm chí chuốc hoạ vào thân. Nhẹ, ‘được’ ném vào mặt vài câu chửi thề. Nặng, thì dùng đao búa…
Hình như ở nước ta, chưa có luật nào xử phạt những người văng tục, chửi thề ở nơi công cộng. Chẳng lẽ đó không phải làm ô nhiễm đó sao?

(Đỗ Bảo Châu: Văn hoá không rõ nguồn, ANTĐ 05/10/2012)

Nguồn : http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-...bca/vn-ha.html


Hàn sẽ hơi buồn nếu Ace đọc bài mà... đéo thanks
__________________
3T -> Thân Thiện - Trí Thức - Tình Nghĩa

Trăm Năm Trong Cõi Người Ta
Tem Bì Bưu Ảnh Là Moa Ưa Rùi
Văn Chương Súng Ống Nửa Mùa
Chõ Mồm Một Tí Nói
Đùa Ace Ơi!
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
10 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn HanParis vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
asahi (05-07-2013), Dat_stamp (05-07-2013), hat_de (06-07-2013), manh thuong (06-07-2013), nam_hoa1 (04-07-2013), Ng.H.Thanh (06-07-2013), Nguoitimduong (04-07-2013), Poetry (05-07-2013), Tien (05-07-2013), VAPUTIN (03-07-2013)
  #3  
Cũ 05-07-2013, 08:10
asahi's Avatar
asahi asahi vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
 
Ngày tham gia: 17-10-2008
Bài Viết : 1,919
Cảm ơn: 5,778
Đã được cảm ơn 7,963 lần trong 1,494 Bài
Mặc định

Dân Nghệ Tĩnh thì dùng từ "Nỏ": Nỏ biết, nỏ nghe, nỏ chỉ..............
__________________
Add: 67 B Ông Ích Khiêm, Huế
Tel: 0122 5503 124
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
8 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn asahi vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
Dat_stamp (05-07-2013), HanParis (05-07-2013), hat_de (06-07-2013), nam_hoa1 (08-08-2013), Ng.H.Thanh (06-07-2013), Poetry (05-07-2013), Tien (05-07-2013), VAPUTIN (05-07-2013)
  #4  
Cũ 05-07-2013, 14:31
HanParis's Avatar
HanParis HanParis vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
 
Ngày tham gia: 19-02-2013
Đến từ: Paris - France
Bài Viết : 4,031
Cảm ơn: 10,439
Đã được cảm ơn 20,161 lần trong 3,980 Bài
Mặc định

Trích dẫn:
Nguyên văn bởi asahi Xem Bài
Dân Nghệ Tĩnh thì dùng từ "Nỏ": Nỏ biết, nỏ nghe, nỏ chỉ..............
Hàn không phủ nhẫn từ này...Đ. dỡ nhưng tích Trọng Thủy Mỵ Châu là ở Hoa Lư mà Asasi? Chuyện Nỏ Thần, vì tình yêu mà nàng bị chàng tráo nỏ! Tình Yêu Mù Quáng? Làm Hàn nhớ lại khi xưa trong giờ Pháp văn, thày có hỏi đương sự vì sao có cặp trai gái kia dám băng qua XL Biên Hòa (XL Hà Nội nay) như thế kia thì Hàn ôn tồn trả lời thầy : Dạ thưa thầy chắc tại...Tình Yêu Mù Quáng!!!

Hình như chỉ về người thứ 3 (cũng như nhiều đại từ chỉ người) tiếng Việt ta rất phong phú. Ở miền Tây Nam Bộ thì hay có vụ đánh thêm dấu hỏi :

Ổng, Bả, Ảnh, Ẻm, Cổ, Chỉ, Cẩu, Mở... Trong khi dân miền Bắc thì xài ông ấy, bà ấy, anh ấy... Phải dân miền ngoài thích ấy hơn?
Ra tới nước ngoài mà người Việt còn áp dụng thểm dấu hỏi trong tiếng Anh, tiếng Pháp :

Him -> Hĩm
Her -> Hỡ (hang?)
Moi -> Mỏa
Lui - > Lũi
Elle -> Ẽn
__________________
3T -> Thân Thiện - Trí Thức - Tình Nghĩa

Trăm Năm Trong Cõi Người Ta
Tem Bì Bưu Ảnh Là Moa Ưa Rùi
Văn Chương Súng Ống Nửa Mùa
Chõ Mồm Một Tí Nói
Đùa Ace Ơi!
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
5 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn HanParis vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
hat_de (06-07-2013), manh thuong (06-07-2013), nam_hoa1 (08-08-2013), Ng.H.Thanh (05-07-2013), VAPUTIN (05-07-2013)
  #5  
Cũ 05-07-2013, 20:49
VAPUTIN's Avatar
VAPUTIN VAPUTIN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Tem Không Răng
 
Ngày tham gia: 30-01-2013
Bài Viết : 1,047
Cảm ơn: 1,502
Đã được cảm ơn 6,361 lần trong 1,062 Bài
Mặc định

Trong khi người Nhật nhận dân Huệ làm bà con thì dân Ăng Lê chắc phải nghiên cứu xem tiếng Anh có họ hàng chi mô với "tiếng Hà tĩnh" không.

Trước mắt có thể thấy No trong tiếng Anh xuất phát từ Nỏ
Từ chaos xuất phát từ tử cháo
vv và vv
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
5 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn VAPUTIN vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
HanParis (05-07-2013), hat_de (06-07-2013), manh thuong (06-07-2013), nam_hoa1 (08-08-2013), Ng.H.Thanh (06-07-2013)
  #6  
Cũ 07-08-2013, 22:33
VAPUTIN's Avatar
VAPUTIN VAPUTIN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Tem Không Răng
 
Ngày tham gia: 30-01-2013
Bài Viết : 1,047
Cảm ơn: 1,502
Đã được cảm ơn 6,361 lần trong 1,062 Bài
Mặc định

Góp phần giải thích từ bùng binh

Bạn Hàn trong topic "Bùng binh Cộng Hòa" có tiếu lâm là từ "bùng binh" có thể là do ở chổ đó đám cờ bạc ngồi "binh" xập xám dưới "bùn". He he xưa nay Va tui chưa thấy ai đánh bài dưới bùn cả.

Từ bùng binh nghe nói có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là...cái bùng binh, nghĩa thứ hai là cái ống để dành tiền. Thú thật cái nghĩa thứ hai ở đâu dùng Va tui không biết chứ dân miền Nam chắc không dùng.

Bùng binh theo nghĩa thứ nhất đích thị là phương ngữ Nam bộ mà dịch ra tiếng Bắc kỳ có nghĩa là "vòng xoay". Ra Hà nội mà cứ "bùng binh" thì có khi bị các anh đầu gấu ngoài đó "binh" một phát thành "bùn" luôn.

Từ bùng binh trong phương ngữ nam bộ chỉ phần đất nằm ở chổ giao nhau của các con đường mà khi xe cộ đến đây buộc phải men theo rỉa bùng binh để đổi hướng qua đường khác.

Từ bùng binh có tự bao giờ? Theo Va thì cái quy hoạch "bùng binh" không nằm trong sách vở dạy cho quan lại xưa kia ở xứ ta mà do người Pháp mang đến.

Sau khi chiếm Sài gòn năm 1859 thì người Pháp cũng bắt đầu xem xét quy hoạch lại Bến Nghé xưa theo kiểu Phú lãng sa, theo đó các bùng binh bắt đầu xuất hiện ở xứ Việt Nam.

Cái bùng binh xưa nhất của Sài gòn ở đâu? Xem lại bản đồ Sài gòn xưa thì chắc Bùng binh Rigault de Genouilly, nơi sau này là công trường Mê Linh với tượng đài hai Bà Trưng, và hiện nay là tượng Trần Hưng Đạo là bùng binh đầu tiên của Sài gòn.

COCHINCHINE - Saigon - Statue de l'Amiral Rigault de Genouilly

Bài được VAPUTIN sửa đổi lần cuối vào ngày 08-08-2013, lúc 10:48
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
3 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn VAPUTIN vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
HanParis (08-08-2013), Kounle (08-08-2013), nam_hoa1 (08-08-2013)
  #7  
Cũ 08-08-2013, 10:38
VAPUTIN's Avatar
VAPUTIN VAPUTIN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Tem Không Răng
 
Ngày tham gia: 30-01-2013
Bài Viết : 1,047
Cảm ơn: 1,502
Đã được cảm ơn 6,361 lần trong 1,062 Bài
Mặc định

Góp phần giải thích từ bùng binh


Vài hình ảnh về cái bùng binh đầu tiên ở Việt Nam







Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
2 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn VAPUTIN vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
Kounle (08-08-2013), nam_hoa1 (08-08-2013)
  #8  
Cũ 08-08-2013, 10:41
VAPUTIN's Avatar
VAPUTIN VAPUTIN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Tem Không Răng
 
Ngày tham gia: 30-01-2013
Bài Viết : 1,047
Cảm ơn: 1,502
Đã được cảm ơn 6,361 lần trong 1,062 Bài
Mặc định

Góp phần giải thích từ bùng binh









Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
3 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn VAPUTIN vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
HanParis (08-08-2013), Kounle (08-08-2013), nam_hoa1 (08-08-2013)
  #9  
Cũ 08-08-2013, 10:57
VAPUTIN's Avatar
VAPUTIN VAPUTIN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Tem Không Răng
 
Ngày tham gia: 30-01-2013
Bài Viết : 1,047
Cảm ơn: 1,502
Đã được cảm ơn 6,361 lần trong 1,062 Bài
Mặc định

Góp phần giải thích từ bùng binh








Đài kỷ niệm Doudart de Lagrée, nhà ngoại giao và nhà thám hiểm người Pháp, trưởng đoàn thám hiểm sông Mekong của Pháp (1866-1868). Sinh năm 1823, mất năm 1868 tại Vân Nam TQ vì bệnh trên đường thám hiểm. Đài kỷ niệm này nằm phía sau tượng Rigault de Genouilly chỗ quảng trường Mê Linh sau này.

Tượng đài này có cái hàng rào đặc biệt làm bằng các khẩu súng thần công của thành Phụng, Một cách làm bỉ mặt dân An nam mít của bọn Phú?

Bài được VAPUTIN sửa đổi lần cuối vào ngày 08-08-2013, lúc 11:00
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
3 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn VAPUTIN vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
HanParis (08-08-2013), Kounle (08-08-2013), nam_hoa1 (08-08-2013)
  #10  
Cũ 08-08-2013, 11:09
VAPUTIN's Avatar
VAPUTIN VAPUTIN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Tem Không Răng
 
Ngày tham gia: 30-01-2013
Bài Viết : 1,047
Cảm ơn: 1,502
Đã được cảm ơn 6,361 lần trong 1,062 Bài
Mặc định

Góp phần giải thích từ bùng binh



Bản đồ Sài gòn năm 1875 cho thấy kênh Coffyn bị lấp để làm đại lộ Bonard (Lê Lợi ngày nay). Một phần kênh Charner cũng bị lấp để là đâi lộ Charner (Nguyễn Huệ), Chổ giao giữa hai đường Bonard và Charner xuất hiện cái bùng binh thứ hai của Sài gòn. Bùng binh này người Pháp cho xây một cái giếng nước ở giữa nên ban đầu ngã tư này còn gọi là ngã tư Giếng nước hay ngã tư Kênh Lấp. Xây giếng nước làm gì? Va tui đoán chắc để lấy nưới tưới cho cái công viên trước nhà Xã Tây cùng với số cây con đang trồng dọc hai cái đại lộ trung tâm này?



Bản đồ của Favre (capitaine d'infanterie de la Marine), 1881
cho thấy lúc này Sài gòn đã có khá nhiều bùng binh ở giữa hai con đường
Bonard và Charner, trước nhà thờ Đức Bà và ở Tháp nước (hồ Con rùa).

Bài được VAPUTIN sửa đổi lần cuối vào ngày 08-08-2013, lúc 11:41
Trả Lời Kèm Trích Dẫn Bài Này
2 Thành viên sau đây nói lời CẢM ƠN bạn VAPUTIN vì đã gửi Bài viết hữu ích này:
HanParis (08-08-2013), nam_hoa1 (08-08-2013)
Trả lời

Công Cụ
Hiển Thị Bài

Quyền hạn của Bạn trong mục này
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến:

Những Đề tài tương tự
Ðề Tài Người Tạo Đề Tài
Chuyên Mục
Trả Lời Bài Mới Nhất
Tản Mạn Về Con Tem Tết HanParis Café VietStamp 1 01-02-2015 01:41
Năm Ngọ Tản Mạn Về Chuyện Ngựa HanParis Văn hóa - Giáo dục - Tri thức 8 04-03-2014 23:50
Tản mạn về một phong bì duca TEM Đông Dương in đè (tem tạm thời) : 1945 - 1946 52 02-07-2013 12:48
Tản mạn về Tem quý hiếm Nguoitimduong Con Tem kể chuyện 53 16-06-2013 10:23
Tản mạn về bộ "Hoa Đà Lạt" (ms: 578) linhtote123 Những sai sót, nhầm lẫn về kiến thức trên Tem Việt Nam 1 04-12-2008 19:25



©2007-2019 Diễn đàn Viet Stamp
Cơ quan chủ quản: Câu lạc bộ sưu tập tem Viet Stamp (VSC)
Giấy xác nhận cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến số 87/GXN-TTĐT
do Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cấp ngày 31-08-2011
Chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Anh Thi - Chủ nhiệm VSC
Bản quyền thuộc VSC. Địa chỉ: 2/47 Phan Thúc Duyện, Phường 4, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Điện thoại: (08) 38111467 – Website: vietstamp.net.vn – Email: vietstamp.net@gmail.com – Hotline: 0918 636 791
Vui lòng ghi rõ nguồn “Viet Stamp” khi phát hành lại thông tin từ diễn đàn này.
--------------------
Mã nguồn: vBulletin v3.8.3 & Copyright © 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.
Diễn đàn Viet Stamp có giấy phép sử dụng từ Jelsoft Enterprises Ltd.